Bài văn mẫu · July 15, 2021

Phân tích trích đoạn Mã Giám Sinh mua Kiều trong truyện Kiều

Bài 1

Truyện Kiều là niềm tự hào của dân tộc Việt Nam “ Nguyễn Du viết Kiều đất nước hóa thành văn”. Bằng ngôn ngữ thơ Nôm điêu luyện, Nguyễn Du đã làm nên một kiệt tác nghệ thuật bất hủ. Một trong những bút pháp tả nhân vật rất ấn tượng trong truyện Kiều đó là hiện thực hóa nhân vật phản diện. Hãy đến với đoạn trích “ Mã Giám mua Kiều” để khám phá điều đó.

Đoạn thơ thuộc phần Gia biến và lưu lạc, mở đầu cho kiếp đoạn trường lưu lạc của người con gai họ Vương. Gia đình Kiều bị thằng bán tơ vu oan, Kiều phải đem lên bàn cân hai thứ tình cảm để rồi quyết định bán mình cứu cha và em. Đọc đoạn thơ, người đọc không chỉ khinh bỉ căm phẫn trước chân tướng của một tên buôn thịt bán người mà còn xót xa cho nỗi đau khổ của người con gái tài hoa bị chà đạp. Ngòi bút của Nguyễn Du thấm đẫm tình cảm nhân văn.

Trước hết, ta hãy đến với cảnh mua bán người theo kiểu thời trung cổ. Người mua ở đây là Mã Giám Sinh, kẻ bán là mụ mối, còn người bị bán là Thúy Kiều. Đây là kiểu mua bán diễn ra thường xuyên dưới xã hội phong kiến.Nhân vật Mã giám Sinh hiện lên thật đặc biệt:

“ Quá niên trạc ngoại tứ tuần
Mày râu nhẵn nhụi áo quần bảnh bao”

Hắn chỉ là một tên buôn thịt bán người nhưng mập mờ đánh lận con đen. Tự xưng mình là sinh viên Quốc Tử giám một tri thức quý tộc hẳn hoi. Nhưng từ cái diện mạo trải chuốt quá đáng hắn tự biến mình thành một kẻ lố lăng trai lơ đàng điếm. Nhân cách hắn ngày càng hé lộ dần:

“ Hỏi tên rằng : Mã giám Sinh
Hỏi quê rằng : Huyện Lâm Thanh cũng gần”

Nói năng thì cộc lốc thô lỗ không buồn thưa gửi thật không đúng với cái “ danh” mà hắn giới thiệu. Thế rồi cử chỉ thái độ của hắn ngày càng chứng tỏ hắn đóng kịch. Người đọc đến giật mình trước cử chỉ hắn đến nhà Kiều:

“ Ghế trên ngồi tót sỗ sàng”

Thật là một cử chỉ bất lịch sự đến chơ chẽn và hỗn láo. Hắn đã ngồi nhầm “ vào vị trí của các bậc cao niên, các bậc huynh trưởng đáng kính, chỉ một chữ “ tót” thôi đủ lột tả chân tướng của một kẻ săn mồi đã quá quen.

Tiếp đến màn kịch bộc lộ bản chất dã thú của một con buôn lưu manh giả dối bất nhân vì tiền:

“ Đắn đo cân sắc cân tài
Ép cung cầm nguyệt thử bài quạt thơ”

Hắn biến Kiều như một đồ vật đem bán, cân đong đo đếm cả nhan sắc lẫn tài hoa lạnh lùng vô cảm trước tình cảnh của Kiều. Lại còn cái kiểu “ Cò kè bớt một thêm hai” đã chứng tỏ hắn là con buôn lọc lõi lươn lẹo trên cả mức giả dối.

Bằng bút pháp hiện thực hóa nhưng hơn thế là thái độ căm phẫn khinh bỉ kẻ đê tiện, Nguyễn Du đã khắc họa chân tướng Mã giám Sinh tương đối hoàn chỉnh cả về diện mạo tính cách. Dù có cố tình che đậy bức màn đen tối dần dần được mở ra, hắn hiện nguyên hình là loài người giả dối vô học bất nhân, loại người như hắn đầy rẫy trong xã hội bấy giờ. Một kiểu đạo đức giả ở cái thời xã hội phong kiến đã suy tàn thối nát. Đồng tiền đã ngự trị xã hội là công cụ của áp bức, biến chúng thành những kẻ bất nhân tính.

Nguyễn Du đã mất biết bao công sức và tâm huyết để vẽ nên một Thúy Kiều tài sắc vẹn toàn. Trời cho nàng bao nhiêu điều tốt đẹp và rồi trời đang lấy dần đi tất cả. Nguyễn Du đã chẳng từng dự đoán số mệnh này:

  Nghị luận về phương châm học đi đôi với hành

“ Đau đớn thay phận đàn bà
Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung”

Và điều đáng sợ ấy đã đến với Kiều. Trong cảnh gia đình tai biến Kiều bỗng chốc trở thành món hàng đem bán. Nhưng càng tội nghiệp hơn khi nàng ý thức được nhân phẩm câm lặng đến tái tê, giọt lệ đã kết thành giọt sầu:

“ Ngại ngùng dợn gió e sương
………………………………………….
Nét buồn như cúc điệu gầy như mai”

Vì là người đẹp nên cả khi đau khổ nhất Nguyễn Du vẫn dùng bút pháp lý tưởng hóa, ẩn dụ tượng trưng “ thềm hoa, lệ hoa, cúc, mai”. Thêm một lần nữa người đọc nhận ra bút pháp rất rạch ròi khi miêu tả hai tuyến nhân vật của đại thi hào Nguyễn Du.

Và cái “ mặn mà” trong tình cảm không chỉ với Kim Trọng với Đạm Tiên mà qua đoạn trích chữ “ hiếu” trong Kiều thể hiện lên rất rõ lòng hiếu thảo đức hy sinh, sự cam chịu chính là phẩm chất truyền thống của người phụ nữ Việt Nam. Nguyễn Du xót thương khi Kiều ứa lệ đau đớn khi nàng tủi nhục ê chề, hết lời ca ngợi một giai nhân “ tài – sắc – hạnh – tình”.

Bằng nghệ thuật miêu tả xen lẫn tự sự, kết hợp bút pháp hiện thực và ước lệ, ngôn ngữ sắc bén gợi cảm, đoạn thơ là bức tranh hiện thực về xã hội phong kiến đương thời, đồng thời thể hiện tấm lòng nhân đạo chan chứa của Nguyễn Du. Đồng tiền cùng những thế lực tàn bạo đã trà đạp lên tất cả. Nhà thơ thương cảm xót xa trước số phận éo le của người con gái bạc mệnh.

Đoạn trích Mã Giám Sinh mua Kiều là một dẫn chứng chứng minh cho tài năng miêu tả tâm lí và xây dựng hình tượng nhân vật tài tình của đại thi hào Nguyễn Du. Truyện Kiều một trong muôn tiếng kêu thương trước số phận bất hạnh của người phụ nữ. Đồng thời, nó là lời kết án âm thầm mà không kém phần mãnh liệt cái xã hội phong kiến suy tàn đã sinh ra những kẻ bất lương như Mã Giám Sinh; Vì lợi ích cá nhân, chúng sẵn sàng chà đạp thô bạo lên nhân phẩm. Thông điệp mà nhà thơ Nguyễn Du muốn gửi đến tất cả chúng ta là: Hãy chặn đứng những bàn tay tội ác! Hãy cứu lấy con người!

Bài 2

Đoạn Mã Giám Sinh mua Kiều dài 34 câu, trích trong Truyện Kiều từ câu 618 – 652.

Bị thằng bán tơ vu oan, cha và em trai bị tra tấn, tù đày, tài sản gia đình bị bọn sai nha “sạch sành sanh vét cho đầy túi tham”. Trước cảnh gia biến, Kiều đã quyết định: Dẽ cho để thiếp bán mình chuộc cha.

Đoạn thơ ghi lại cảnh Mã Giám Sinh đến mua Kiều và nỗi đau khổ của nàng trước bi kịch gia đình và bi kịch tình yêu “trâm gãy bình tan”.

Đoạn thơ tả cảnh mua bán người thời trung cổ được kể lại rất cụ thể, sống động. Người mua là Mã Giám Sinh. Kẻ bán là mụ mối. Người bị đem bán là Thúy Kiều. Khách viễn phương đến, mụ mối rước khách vào lầu trang. Mụ mối giục Kiều “ kíp ra” cho khách gặp. Mụ mối “vén tóc bắt tay” món hàng mình; Mã Giám Sinh “cân sắc cân tài”. Khi khách đã “mặn nồng một vẻ một ưu” mới hỏi giá. Mụ mối thách: “một nghìn vàng”. Hai bên “ cò kè” mua bán với cái giá “vàng ngoài bốn trăm”. Cuộc mua bán xong, hai bên làm thủ tục: “đưa canh thiếp” và hẹn ngày chồng tiền nhận hàng. Cuộc mua bán người lại được trang sức bằng những ngôn từ sang trọng như: mua ngọc, sính nghi, đưa canh thiếp làm nghi, nạp thái vu quy – Đúng như cảnh hỏi vợ, thách cưới của các gia đình quý tộc thời xưa.

  Nghị luận về tình trạng biến đổi khí hậu toàn cầu hiện nay

Cảnh Mã Giám Sinh mua Kiều có giá trị tố cáo hiện thực sâu sắc. Trong xã hội có bọn người buôn thịt bán người, có loại người làm mối, sống bằng nghề làm mối. Tài sắc của người con gái như Thúy Kiều đã trở thành một món hàng để “cò kè” mua bán. Nhân phẩm của người phụ nữ bị chà đạp. Câu thơ “Tiền lưng đã có, việc gì chẳng xong” là lời bình luận cuộc mua bán, lên án đồng tiền hôi tanh, mặt trái đồng tiền trong tay bọn bất lương, bọn buôn thịt bán người.

Đoạn thơ thể hiện nghệ thuật tả người của Nguyễn Du.

Mụ mối: nhanh nhảu, đon đả hỏi họ tên, quê quán viễn khách, rồi “rước vào lầu trang”. Giục Kiều ra nhanh (kíp ra), “vén tóc bắt tay” Kiều, khôn khéo thách giá:

Mối rằng: Giá đáng nghìn vàng,

Dấp nhà nhờ lượng người thương dám nài!

Tác giả tả cử chỉ, ngôn ngữ mụ mối, làm hiện lên một loại người nhanh nhẹn, khôn khéo, giảo hoạt, kiếm ăn bằng nghề làm mối trong việc mua, bán người.

Mã Giám Sinh là “viễn khách” đến để “vấn danh” – khách đến hỏi vợ và xin cưới. Cách giới thiệu có vẻ trang trọng. Hai câu tiếp theo là “hỏi – đáp”. Cách trả lời cộc lốc, khiếm nhã. Hai chữ “rằng” làm cho khẩu ngữ thêm thô lậu:

Hỏi tên, rằng: “Mã Giám Sinh”,

Hỏi quê, rằng: “Huyện Lâm Thanh cũng gần”.

Mã Giám Sinh chung lưng vốn với mụ Tú Bà mở ngôi hàng lầu xanh ở Lâm Tri nhưng nói dối là quê ở “Lâm Thanh cũng gần”. Hắn chỉ là một tên buôn thịt bán người nhưng mập mờ khoe hão là sinh viên trường Quốc tử giám, họ Mã, nghĩa là một trí thức phong kiến thuộc tầng lớp quý tộc. Nhân cách hé lộ dần. Ngoài bốn mươi tuổi mà vẫn trai lơ: “Nhẵn nhụi” và “bảnh bao” là hai nét vẽ châm biếm:

Quá niên trạc ngoại tứ tuần,

Mày râu nhẵn nhụi, áo quần bảnh bao.

Cũng “thầy” cũng “tớ”, cũng “trước” cũng “sau”, có vẻ trang trọng lắm, đi đâu một bước là có kẻ hầu người hạ, nhưng thầy, tớ của ông khách viễn phương này sao mà “lao xao” chẳng có nền nếp, lễ giáo gì! Cái cử chỉ “sỗ sàng”, không biết ý tứ gì, không biết giữ lễ phép, dám đường đột leo lên ghế cao ngồi “tót”. Nếu là sinh viên trường Quốc tử giám thật, thì hắn ta rất kém sĩ hạnh.

Trước thầy sau tớ lao xao,

Nhà băng đưa mối rước vào lầu trang.

Ghế trên ngồi tót sỗ sàng…

Một chữ “tót” đầy khinh bỉ, đã vạch trần chân tướng kẻ “Quen mồi lại kiếm ăn miền nguyệt hoa”.

“Cân sắc cân tài”, “ép”, “thử” những cử chỉ, cách thức mua người ấy của tên lái buôn họ Mã mới thật ghê tởm! Chỉ sau khi đã “mặn nồng một vẻ một ưa”, Mã Giám Sinh mới “dặt dìu” mua bán. Hắn là kẻ khôn ngoan đến róc đời, trong mọi mánh lới buôn thịt bán người. Cũng sang trọng kiểu cách như ai. Chẳng qua chỉ là hoa hòe hoa sói thớ lợ:

Rằng: “Mua ngọc đến Lam Kiều”,

Sính nghi xin dạy bao nhiêu cho tường?

Hai chữ “cò kè” đã bóc trần bản chất bủn xỉn của một kẻ “Quanh năm buôn phấn bán hương đã lề”.

Qua nhân vật Mã Giám Sinh, ta càng thấy rõ bút pháp hiện thực trong nghệ thuật tả người của Nguyễn Du. Nét vẽ nào cũng sắc sảo tạo nên tính cách xấu xa, đồi bại của nhân vật Mã Giám Sinh. Chi tiết nghệ thuật nào cũng rất sống, đằng sau nét vẽ là thái độ khinh bỉ của nhà thơ đối với loại người bạc ác tinh ma này! Bức chân dung phản diện của Mã Giám Sinh có giá trị tố cáo hiện thực đặc sắc, lên án nạn buôn thịt bán người vô nhân đạo, đạo đức giả trong xã hội phong kiến suy tàn, thối nát.

  Phân tích nhận vật Tràng trong tác phẩm Vợ Nhặt

Kiều là một thiếu nữ hiếu thảo, giàu đức hi sinh. Trước cảnh gia biến nàng đã bán mình để chuộc cha, để cứu gia đình. Nàng tự xem thân mình như “hạt mưa” nhỏ bé, hèn mọn. Tất cả vì “ba xuân”, một lòng đền đáp công ơn sinh thành của cha mẹ:

Hạt mưa sá nghĩ phận hèn,

Liều đem tấc cỏ quyết đền ba xuân.

Kiều sống trong tâm trạng bi kịch dữ dội giữa tình riêng với tình nhà, giữa chữ tình với chữ hiếu, “nỗi mình thêm tức nỗi nhà”. Nàng vô cùng đau khổ. Bao nhiêu nước mắt, bao nhiêu “lệ hoa” đã tuôn rơi, cả người nàng như héo hon, rũ xuống: “ngại ngùng”,… “bóng thẹn”,… “mặt dày”, “nét buồn như cúc điệu gầy như mai”. Vì là người đẹp đau khổ cho nên các ẩn dụ so sánh mà nhà thơ sử dụng đều gắn liền với cái đẹp: thềm hoa, lệ hoa “nét buồn như cúc, điệu gầy như mai”. Kiều bị mụ mối và Mã Giám Sinh “ép cung cầm nguyệt, thử bài quạt thơ”. Mã Giám Sinh đã “đắn đo cân sắc cân tài”. Con người Kiều, tài sắc Kiều đã trở thành món hàng đem ra mua bán. Nguyễn Du đã ca ngợi lòng hiếu thảo, đức hi sinh của Kiều trước gia biến, cảm thương cho nỗi đau khổ của nàng khi Mã Giám Sinh “cân sắc cân tài”, khi bị hắn “cò kè bớt một thêm hai”… Đoạn thơ chứa chan tinh thần nhân đạo là ở những chi tiết nội dung ấy.

Mã Giám Sinh mua Kiều là đoạn thơ có giá trị tố cáo đanh thép và sâu sắc nhất trong Truyện Kiều. Nguyễn Du đã dựng nên một bức tranh tả thực sắc sảo giúp chúng la thấy rõ được bộ mặt tàn ác, ghê tởm của bọn buôn thịt bán người trong xã hội, ở đây là Mã Giám Sinh. Nhà thơ đã lên án mặt trái đồng tiền hôi tanh “Tiền lưng đã có, việc gì chẳng xong” Đồng cảm, xót thương cho số phận nàng Kiều: phải bán mình chuộc cha, thương tiếc tài sắc giai nhân bị dập vùi, đó là giá trị nhân đạo.

Đoạn thơ thể hiện bút pháp nghệ thuật đặc sắc của Nguyễn Du trong tự sự (cảnh mua Kiều), trong tả người, tả Mã Giám Sinh, tả mụ mối thì sử dụng bút pháp hiện thực, chi tiết hiện thực; tả Kiều thì thiên về ước lệ, rất biến hóa, tài tình. Ngôn ngữ mang sắc thái biểu cảm đầy ấn tượng.

Tóm lại, cảnh Mã Giám Sinh mua Kiều có giá trị tố cáo hiện thực và chứa chan tinh thần nhân đạo. Đoạn thơ là sự khởi đầu tiếng kêu thương của một kiếp đoạn trường.

You cannot copy content of this page