Bài văn mẫu

Nghị luận về giá trị nhân đạo của tác phẩm Hai đứa trẻ

Bài 1

Thạch Lam là một trong những cây bút chủ lực của nhóm “Tự lực văn đoàn”. Sáng tác của ông bao gồm nhiều thể loại: truyện ngắn, tiểu thuyết, kí sự, phê bình…Nhưng lĩnh vực thành công nhất của ông là truyện ngắn.Trong những truyện ngắn có khuynh hướng hiện thực cuộc sống của Thạch Lam có thể nói “Hai đứa trẻ” là một tác phẩm thành công tiêu biểu.Truyện không có những tình tiết hấp dẫn, li kì, gây cấn chỉ xoay quanh sinh hoạt của người dân ở một phố huyện nghèo trong khoảng thời gian ngắn ngủi nhưng qua đó Thạch Lam đã đặt ra những vấn đề có ý nghĩa XH sâu sắc.

Đọc “Hai đứa trẻ” chúng ta thấy bao trùm lấy câu chuyện là cuộc sống xơ xác, tiêu điều của một phố huyện nghèo. Cuộc sống đó đã được tác giả miêu tả ở một thời điểm hết sức tiêu biểu-thời điểm ngày lụi tàn: “Trống thu không từng tiếng một vang lên”, “phương Tây đỏ rực như lửa cháy”, “những đám mây ánh hồng như những hòn than sắp tàn”, “ngoài ruộng tiếng ếch nhái kêu rang vọng vào phố chợ..”. Một khoảng không gian mênh mông của đồng ruộng vừa đẹp lại vừa buồn gợi ra trước mắt người đọc.

Trên nền của bức tranh ấy, cuộc sống của người những người dân phố huyện được Thạch Lam miêu tả hết sức đặc sắc: Khi trời nhá nhem tối, mẹ con chị Tí bày cái hàng nước ra dưới gốc cây bàng. Liên dọn dẹp của hiệu tạp hóa rồi cộng sổ tính tiền. Bà cụ Thi đến cửa hàng Liên mua một cút rượu, ngửa cổ uống sạch rồi biến đi lẫn vào trong bóng tối với tiếng cười khanh khách. Đám trẻ con tụ họp chơi đùa trên các thềm nhà. Bác Siêu dọn gánh hàng phở ra bên bếp lửa bập bùng. Gia đình bác Xẩm ngồi trên manh chiếu, trước cái thau trắng chờ có khách để hát kiếm tiền.

Qua ngòi bút chấm phá tinh tế của Thạch Lam chúng ta thấy cuộc sống ở phố huyện nghèo ấy hiện ra như một thế giới đang hấp hối, tàn lụi.

Trong bối cảnh ấy, hai chị em Liên và An cũng như những người dân phố huyện vừa náo nức vừa khắc khoải, mòn mỏi chờ đợi chuyến tàu từ Hà Nội về đi ngang qua phố huyện. Đêm nào cũng vậy, khi trời vừa bắt đầu tối thì hai chị em đã thấp thỏm chờ đợi chuyến tàu. Rồi chuyến tàu đến như hằng đêm nó vẫn thường đến với sức hấp dẫn kì lạ đối với hai chị em Liên-An cũng như người dân nghèo của phố huyện.

Tàu đến với tiếng còi và tiếng rầm rộ của bánh xe. Liên dắt em đứng lên để nhìn chuyến tàu vụt qua, chuyến tàu đầy sức hấp dẫn bởi nó tràn ngập ánh sáng. Ở những toa đèn sáng trưng chiếu ánh cả xuống đường. Những toa thuộc hạng sang trọng lố nhố người; đồng và kềnh lấp lánh. Cái nguồn sáng ấy vút qua, biến vào đêm tối để lại những đóm than nhỏ bay tung tóe trên mặt đường…

Chuyến tàu đêm ấy đã khơi gợi lên trong hồn Liên bao biến động. Đó là hoài niệm về Hà Nội thuở xa xăm. Hà Nội sáng rực, vui vẻ và huyên náo. Đối với Liên, con tàu như đã đem một chút thế giới khác đi qua. Thế giới ấy khác hẳn với thế giới mà Liên đang sống, khác hẳn với vầng sáng nhỏ nhoi của ngọn đèn chị Tí và ánh lửa bập bùng trong gáng hàng của bác Siêu…

Nhìn lại toàn bộ câu chuyện, người đọc không khỏi thắc mắc vì sao hằng đêm chị em Liên-An cứ mòn mỏi đợi chuyến tàu đi ngang qua phố huyện? Vì sao hình ảnh con tàu tràn ngập ánh sáng lại dấy lên trong tâm hồn Liên bao biến động? Bởi vì trong cuộc sống thường ngày ở phố huyện xơ xác, tiêu điều ấy, họ không thể tìm đâu ra niềm vui. Cuộc sống diễn ra chung quanh họ hết sức đơn điệu, nhạt nhẽo, vô vị…Chuyến tàu sáng rực đối với người dân phố huyện là hình ảnh của một thế giới khác hẳn, đối lập hoàn toàn với cái thế giới mà Liên và An đang sống- đó là thế giới của văn minh, niềm vui và hạnh phúc.

Từ đó mà ta cũng nắm bắt được vấn đề sâu sắc mà Thạch Lam gửi gắm vào truyện: Đó là khát vọng vươn ra thế giới văn minh, hạnh phúc của những con người nhỏ bé-giá trị nhân đạo sâu sắc của tác phẩm.

Bên cạnh giá trị về mặt chủ đề, “Hai đứa trẻ” còn nổi bật lên những đặc sắc về nghệ thuật, thể hiện tập trung qua ngòi bút miêu tả của Thạch Lam trong việc tả người, tả cảnh cũng như miêu tả tâm trạng của con người. Gắn liền với nghệ thuật miêu tả là thủ pháp đối lập đã được nhà văn sử dụng hết sức thành công trong truyện. Trước hết là sự đối lập giữa ánh sáng và bóng tối, đối lập giữa tĩnh và động. Thủ pháp đối lập này đã góp phần đắc lực cho Thạch Lam trong việc làm nổi bật chủ đề tác phẩm.

“Hai đứa trẻ” là một truyện ngắn đặc sắc và rất tiêu biểu cho phong cách Thạch Lam. Qua tác phẩm chúng ta thấy rõ tấm lòng nhân đạo của Thạch Lam đối với con người và nhất là những con người nhỏ bé trong xã hội. Chuyện đượm buồn nhưng đó là nỗi buồn cần thiết bởi nó có giá trị thanh lọc tâm hồn con người.

Bài 2

Thạch Lam là một cây bút nổi tiếng của văn học Việt Nam, thuộc nhóm Tự lực văn đoàn. Các tác phẩm của ông luôn luôn chứa đựng những tình cảm ngọt ngào, sâu lắng về cuộc sống thường ngày. Những câu chuyện mà ông kể thường không có cốt truyện, nó chỉ xoáy sâu vào nội tâm của nhân vật hay những mảnh đời cơ cực phải sống lầm lủi ngày này qua tháng khác. Hai đứa trẻ là một trong những tác phẩm mang đậm phong cách của nhà văn Thạch Lam. Đó là một bức tranh về phố huyện nghèo của Việt Nam được ông dựng lên, ẩn sâu trong đó là một niềm cảm thương sâu sắc đối với những con người nơi đây. Đó là điều đã tạo nên giá trị nhân đạo cho tác phẩm.

Giá trị nhân đạo là một trong các giá trị cơ bản của tác phẩm văn học được tạo nên bởi niềm cảm thông sâu sắc của nhà văn với nỗi đau của những con người, những cảnh đời bất hạnh trong cuộc sống. Đồng thời, nhà văn còn thể hiện sự nâng niu, trân trọng những nét đẹp trong tâm hồn và niềm tin khả năng vươn dậy của con người dù trong hòan cảnh nào. Trong tác phẩm Hai đứa trẻ, Thạch Lam không chỉ bày tỏ quan điểm của cá nhân ông mà còn bày tỏ niềm cảm thương sâu sắc của ông dành cho những kiếp người, những nhân vật trong tác phẩm. Mặc dù sống trong cuộc sống khổ cực, vất vả nhưng tác giả đã phát hiện những phẩm chất tốt đẹp bên trong những con người nơi đây, trân trọng những khát vọng của những kiếp người lao động nghèo, đồng thời sâu kín trong đó là sự lên án một xã hội thực dân Pháp thuộc đang đày ải người dân Việt Nam.

Bao trùm lên cả tác phẩm Hai đứa trẻ là một cuộc sống cơ cực với những mảnh đời lam lũ, nghèo xơ xác, những kiếp đời tàn giữa phố huyện đầy u tối, thê lương. Cái khung cảnh nơi đây hiện ra ở một thời điểm mà ngày sắp tàn, sắp kết thúc, tuy đẹp đẽ nhưng lại chỉ là chút ánh nắng cuối ngày, chỉ kịp lóe rạng rồi biến vào trong đêm đen, giống như những con người ở đây với khát vọng của họ, gợi ra trước mắt người đọc chúng ra là một nỗi buồn man mác. Trên cái nền cảnh nhá nhem tối ấy, con người hiện lên cũng thật đơn sơ. Hình ảnh của một chị Tí cùng đứa con bày một gian hàng nước còm cõi, một bác Siêu với gánh phở trên vai, hai chị em Liên với cái gian hàng tạp hóa “nhỏ xíu”, cụ Thi điên say rượu với tiếng cười khanh khách trong đêm,…Ngòi bút chấm phá của Thạch Lam chỉ điểm vài nét trên bức tranh với gam màu đỏ đen hỗn độn ấy nhưng lại khiến cho chúng ta như thấy được cả một làng quê Việt Nam tiêu biểu cho xã hội ta dưới thời thực dân Pháp đô hộ. Và từ đấy, người ta thấy được nỗi thương cảm của Thạch Lam dành cho con người.

Giá trị nhân đạo đầu tiên được tác giả thể hiện ở tình cảm xót thương của mình đối với những người sống ở phố huyện nghèo. Ông xót xa cho những “đứa trẻ con nhà nghèo ở ven chợ”, “chúng nhặt nhạnh thanh nứa, thanh tre hay bất cứ cái gì đó có thể dùng được của các người bán hàng để lại”. Thương mẹ con chị Tí, ngày mò cua bắt tép, tối đến mới dọn hàng nước dưới gốc cây bàng. Cuộc sống của chị vất vả, mòn mỏi, quẩn quanh, leo lét như ngọn đèn của chị, ánh sáng chỉ đủ toả ra một vùng nhỏ mà thôi. Ông thương bà cụ Thi xuất hiện với tiếng cười khanh khách, với dáng điệu đi lảo đảo, động tác uống rượu thì khác lạ “Cụ ngửa cổ ra đàng sau, uống một hơi cạn sạch”. Thương luôn bác phở Siêu bán phở gánh. Thu nhập quá ít ỏi vì phở là món quà xa xỉ phẩm, hàng của bác thật ế ẩm. Thương gia đình bác xẩm. Cuộc sống gia đình bác lay lắt như ngọn đèn trước gió. Gia tài của bác là chiếc đàn bầu và chiếc thau để xin tiền. Cuộc sống của bác bấp bênh. Cái đói, cái chết luôn kề cận. Thương cả chị em Liên, cuộc sống của chị em Liên cũng chẳng khá hơn cuộc sống của mọi người. Cửa hàng tạp hoá của chị em Liên “nhỏ xíu”. Hàng hoá thì lèo tèo mà khách hàng là những người nghèo khó. Ông cảm thương tất cả mọi người sống nơi đây, thương cho cuộc sống quẩn quanh, tẻ nhạt, tù túng của những con người nơi phố huyện nghèo.

Song bên cạnh đó, giá trị nhân đạo còn thể hiện ở chỗ Thạch Lam phát hiện những phẩm chất tốt đẹp bên trong những con người nơi phố huyện nghèo. Họ đều là những người cần cù, chịu thương, chịu khó: Mẹ con chị Tí ngày mò cua bắt ốc, tối đến dọn hàng nước dẫu chẳng bán được là bao. Hai chị em Liên thay mẹ trông coi gian hàng tạp hoá. Bác phở Siêu chịu khó bán phở gánh,…Không những là những con người cần cù để lo cho cuộc sống đủ miếng cơm manh áo mà họ còn là những người giàu lòng thương yêu. Dù khốn khó đấy, thiếu thốn nghèo khổ đấy nhưng họ vẫn luôn yêu thương nhau, không vì miếng ăn mà chà đạp, làm hại nhau. Họ còn là những con người giàu lòng trắc ẩn, yêu thương những con người đồng cảnh ngộ với mình: Liên thương những đứa trẻ con nhà nghèo phải “nhặt nhạnh” trên nền chợ tàn, dù rằng chính chi “cũng chẳng có tiền để cho chúng”…

Chưa hết, giá trị nhân đạo còn thể hiện ở sự tôn trọng của nhà văn trước những ước mơ của người dân nghèo về một cuộc sống tốt đẹp, một tươi lai tươi sáng hơn. Ông trân trọng những hoài niệm trong quá khứ tươi đẹp cunga như mơ ước trong tương lai của chị em Liên “Hai chị em mong ước được thấy ánh sáng của đoàn tàu, nhớ về quá khứ tươi đẹp khi gia đình còn sống ở Hà Nội”. Đoàn tàu như đem đến cho hai chị em Liên “một chút thế giới khác”. Ông muốn thức tỉnh những con người ở phố huyện nghèo, hướng họ tới một cuộc sống tốt đẹp hơn, âm thanh chan hòa hơn khác với “tiếng trống thu không” quạnh quẽ của phố huyện này. Đồng thời khi ông miêu tả một phố huyện nghèo của Việt Nam thời Pháp thuộc là ông đang lên án chế độ xã hội cũ, không bảo đảm được quyền sống cho con người.

Giá trị nhân đạo là một trong những phần quan trọng nhất làm nên một tác phẩm hay, có lẽ vì thế mà Hai đứa trẻ đã trở thành một tác phẩm thành công bậc nhất trong nền văn học hiện thực Việt Nam. Giá trị nhân đạo còn được thể hiện thật sâu sắc trong tác phẩm, tác giả xót thương những con người nghèo khổ, phát hiện và miêu tả được những phẩm chất tốt đẹp của người lao động, trân trọng những ước mơ về cuộc sống tốt đẹp hơn của họ. Cùng với những truyện ngắn khác của ông, Hai đứa trẻ đã góp phần thể hiện sự tài hoa, xuất sắc của Thạch Lam trong viết truyện ngắn trước Cách mạng tháng Tám 1945. Truyện còn lên án một xã hội đầy bóng tối, không cho con người thấy tương lai.

Similar Posts

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *