Bài văn mẫu

3 bài văn mẫu phân tích tác phẩm Nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm hay nhất

Bài 1

Nguyễn Bỉnh Khiêm là người có học vấn uyên thâm, từng làm quan nhưng vì cảnh quan trường nhiều bất công nên ông đã cáo quan về ở ẩn; sống cuộc sống an nhàn, thanh thơi. Ông còn được biết đến là nhà thơ nổi tiếng với hai tập thơ tiếng Hán “Bạch Vân am thi tập” và tập thơ tiếng Nôm “Bạch Vân quốc ngữ thi”. Bài thơ “Nhàn “được rút trong tập thơ “Bạch Vân am thi tập”. Bài thơ đựợc viết bằng thể thất ngôn bát cú đường luật, là tiếng lòng của Nguyễn Bỉnh Khiêm về một cuộc sống nhiều niềm vui, an nhàn và thanh thản nơi đồng quê.

Xuyên suốt bài thơ “Nhàn” là tâm hồn tràn ngập niềm vui và sự thanh tịnh trong tâm hồn tác giả. Có thể xem đây là điểm nhấn, là tinh thần chủ đạo của bài thơ. Chỉ với 8 câu thơ đường luật nhưng Nguyễn Bỉnh Khiêm đã mang đến cho người đọc một cuộc sống an nhàn nơi đồng quê êm ả.

Mở đầu bài thơ là hai câu thơ đề rất mộc mạc:

Một mai một cuốc, một cần câu
Thơ thẩn dầu ai vui thú nào

Với phép lăp “một”-“một” đã vẽ lên trước mắt người đọc một khung cảnh bình dị, đơn sơ nơi quê nghèo, dù một mình nhưng không hề đơn độc. Hai câu thơ toát lên sự thanh tịnh của tâm hồn và êm đềm của thiên nhiên ở vùng quê Bắc Bộ. “Một cuốc”, “một cần câu” gợi lên sự bình dị, mộc mạc của một người nông dân chất phác. Hình ảnh Nguyễn Bỉnh Khiêm hiện lên là một lão nông an nhàn, thảnh thơi với thú vui tao nhã là câu cá và làm vườn. Đây có thể nói là cuộc sống đáng mơ ước của rất nhiều người ở thời kỳ phòng kiến ngày xưa nhưng không phải ai cũng có thể dứt bỏ được chốn quan trường về với đồng quê như thế này. Động từ “thơ thẩn” ở câu thơ thứ hai đã tạo nên nhịp điệu khoan thai, êm ái cho người đọc. Dù ngoai kia người ta vui vẻ nơi chốn đông người thì Nguyễn Bỉnh Khiêm vẫn mặc kệ, vẫn bỏ mặc để “an phận” với cuộc sống của mình hiện tại. Cuộc sống của ông khiến nhiều người ngưỡng mộ.

Đến hai câu thơ thực tiếp theo càng khắc họa rõ nét hơn chân dung của “lão nông Nguyễn Bỉnh Khiêm”.

Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ
Người khôn người đến chốn lao xao

Đây có thể xem là tuyên ngôn sống của Nguyễn Bỉnh Khiêm những năm tháng sau khi cáo quan về ở ẩn. Ông tự nhận mình “dại” khi tìm nơi vắng vẻ đến sống, nhưng đây là cái “dại” khiến nhiều người ghen tỵ và ngưỡng mộ. Ông rất khéo léo trong việc dùng từ ngữ độc đáo, lột tả được hết phong thái của ông. Ông bảo rằng những người chọn chốn quan trường là những người “khôn”. Một cách khen rất tinh tế, khen mà chê, cũng có thể là khen mình và chê người. Tứ thơ ở hai câu này hoàn toàn đối lập nhau từ ngôn ngữ đến dụng ý “dại” –”khôn”, “vắng vẻ” – “lao xao”. Nguyễn Bỉnh Khiêm tìm về nơi vắng vẻ để ở có phải là trốn tránh trách nhiệm với nước hay không? Với thời thế như vậy giờ và với cốt cách của ông thì “nơi vắng vẻ” mới thực sự là nơi để ông sống đến suốt cuộc đời. Một cốt cách thanh cao, một tâm hồn đáng ngưỡng mộ.

Hai câu thơ luận đã gợi mở cho người đọc về cuộc sống bình dị, giản đơn và thanh cao của Nguyễn Bỉnh Khiêm:

Thu ăn măng trúc đông ăn giá
Xuân tắm hồ sen hạ tắm ao

Một cặp câu đã lột tả hết tất cả cuộc sống sinh hoạt và thức ăn hằng ngày của “lão nông nghèo”. Mùa nào đều tương ứng với thức ăn đấy, tuy không có sơn hào hải vị nhưng những thức ăn có sẵn này lại đậm đà hương vị quê nhà, khiến tác giả an phận và hài lòng. Mùa thu có măng trúc ở trên rừng, mùa đông ăn giá. Chỉ với vài nét chấm phá Nguyễn Bỉnh Khiêm đã “khéo” khen thiên nhiên đất Bắc rất hào phòng, đầy đủ thức ăn. Đặc biệt câu thơ “Xuân tắm hồ sen hạ tắm ao” phác họa vài đường nét nhẹ nhàng, đơn giản nhưng toát lên sự thanh tao không ai sánh được. Một cuộc sống dường như chỉ có tác giả và thiên nhiên, mối quan hệ tâm giao hòa hợp nhau.

Đến hai câu thơ kết dường như đúc kết được tinh thần, cốt cách cũng như suy nghĩ của Nguyễn Bình Khiêm:

Rượu đến cội cây ta sẽ uống
Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao

Hai câu thơ này là triết lý và sự đúc rút Nguyễn Bỉnh Khiêm trong thời gian ở ẩn. Đối với một con người tài hoa, có trí tuệ lớn như thế này thì thực sự phú quý không hề là giấc chiêm bao. Ông từng đỗ Trạng nguyên thì tiền bạc, của cải đối với ông thực ra mà nói không hề thiếu nhưng đó lại không phải là điều ông nghĩ đến và tham vọng. Với ông phú quý chỉ “tựa chiêm bao”, như một giấc mơ, khi tỉnh dậy thì sẽ tan, sẽ hết mà thôi. Có thể xem đây chính là cách nhìn nhận sâu sắc, đầy triết lý nhất. Với một con người thanh tao và ưa sống an nhàn thì phú quý chỉ như hư vô mà thôi, ông yêu nước nhưng yêu theo một cách thầm lặng nhất. Cách so sánh độc đáo đã mang đến cho hai câu kết một tứ thơ hoàn hảo nhất.

Như vậy với 8 câu thơ, bài thơ “Nhàn” của Nguyễn Bỉnh Khiêm đã khiến người đọc ngưỡng mộ và khâm phục cốt cách, tinh thần và phong thái của ông. Là một người yêu nước, thích sự thanh bình và coi trọng cốt cách xứng đáng là tấm gương đáng học hỏi. Bài thơ đường luật kết cấu chặt chẽ, tứ thơ đơn giản nhưng hàm ý sâu xa đã làm toát lên tâm hồn và cốt cách của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Cho đến bây giờ, ông vẫn được rất nhiều người ngưỡng mộ.

Bài 2

Nhàn là tác phẩm thơ nôm nổi tiếng của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Bài thơ đã nêu lên quan niệm sống nhàn của một bậc ẩn sĩ thanh cao. Đó là cuộc sống bình dị, nhàn nhã chốn thôn quê, bỏ qua những danh lợi tầm thường, của cuộc sống bon chen đến nghẹt thở. Cùng phân tích bài thơ Nhàn để thấy được sự ung dung, tự tại mà Nguyễn Bỉnh Khiêm đã nhắc tới.

Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491 – 1585) là một tri thức nho sĩ nổi tiếng. Ông sinh vào thời buổi loạn lạc Lê – Mạc xưng hùng, Trịnh – Nguyễn phân tranh. Vì thế, ông chỉ làm quan 8 năm rồi lui về ở ẩn. Bằng tài năng văn học thiên phú, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã dùng ngòi bút của mình để đưa ra những trăn trở, suy nghĩ về cuộc sống con người vào trong thơ ca.

Nhàn là một trong những tác phẩm nổi tiếng của Nguyễn Bỉnh Khiêm nằm trong tập “Bạch Vân quốc ngữ thi”. Tác phẩm được viết bằng thể thơ Thất ngôn bát cú đường luật thể hiện rõ nét triết lý, quan niệm sống của ông, đồng thời cũng đại diện cho lớp các nhà nho sĩ ẩn dật thời bấy giờ.

Bài thơ chỉ vỏn vẹn 8 câu đường luật nhưng trong đó ta thấy được một tâm hồn tự do, tự tại, tràn ngập niềm vui và thanh tịnh. Các phân tích bài thơ Nhàn, càng thấy được một bức tranh cuộc sống an nhàn nơi thôn quê êm ả được mở ra.

Chẳng phải đao to, búa lớn, mở đầu bài thơ, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã cho người ta thấy được cuộc sống bình dị hết sức:

Một mai, một cuốc, một cần câu

Thơ thẩn dầu ai vui thú nào

Ở đây, tác giả đã sử dụng biện pháp liệt kê, kết hợp nhịp thơ 2/2/3 thong thả, đều đặn cho ta thấy được cuộc sống lao động chốn thôn quê hết sức bình dị. Những mai, những cuốc, hay cần câu đều là những dụng cụ lao động quen thuộc của người nông dân. Nó chính là những người bạn đồng hành của cuộc sống điền viên, thôn dã. Cuộc sống ấy như một thói quen, lặp đi lặp lại hàng ngày như chẳng bao giờ biết chán.

Nguyễn Bỉnh Khiêm còn kết hợp khéo léo biện pháp điệp ngữ “một” – đó là số ít. Điều này cho thấy cuộc sống nơi điền viên của tác giả vô cùng giản đơn, chẳng tư lợi, bon chen. Hàng ngày chỉ cần xới đất, câu cá là đủ vui thú rồi.

Đến câu thơ thứ hai, tác giả đã bộc lộ rõ quan điểm sống của mình. Ở đây, tác giả sử dụng từ “thơ thẩn” như muốn diễn tả trực tiếp tâm trạng của mình. “Thơ thẩn” chính là thảnh thơi, thanh thản và mãn nguyện với cuộc sống hiện tại. Đó là lối sống ông đã chọn và bằng lòng với nó. Vì thế, “dầu ai vui thú nào” thì cũng không làm thay đổi được cuộc sống thực tại nơi đồng quê của ông.

Nếu ở hai câu đề, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã cho người đọc thấy được cuộc sống nhàn nhã chốn điền viên. Thì đến hai câu thực, ông lại một lần nữa khẳng định chắc chắn về quan niệm sống xa rời thị phi của mình:

Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ

Người khôn người đến chốn lao xao

Ở đây, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã rất thành công khi sử dụng nghệ thuật đối “ta – người” “dại – khôn”. Sự đối lập này càng làm nổi bật quan niệm và triết lý sống nhàn của nhà thơ. Đó là cuộc sống không bon chen với đời, không màng vinh hoa phú quý.

Thế nên, sự đối lập giữa “nơi vắng vẻ” – “chốn lao xao” chính là lời giải cho lựa chọn của tác giả. Nơi vắng vẻ là nơi ít người qua lại, biết đến, ở đấy chẳng cần đua chen, cầu cạnh hay tranh giành với ai. Nơi đó có thiên nhiên hòa hợp, trong lành, con người được sống một cách gần gũi nhất với cỏ cây, hoa lá. Trong khi đó “chốn lao xao” là nơi ồn ào, náo nhiệt, nhưng cùng với đó là sự đua chen, giành giật, để sống được ở đó phải luồn cúi, cầu cạnh để rồi phải đánh mất mình. Ở đây ông tự nhận mình là “ta dại”. Nhưng có lẽ đây lại là một so sánh ngược khiến ta phải cảm thán “dại mà hóa khôn, không hóa ra lại dại”. Đó cũng là sự mỉa mai hóm hỉnh mà Nguyễn Bỉnh Khiêm nhắc đến cuộc sống bon chen của thiên hạ.

Để người đọc thấy rõ được lối sống hòa hợp, vui thú điền viên, tác giả đã vẽ nên bức tranh tứ bình vô cùng đẹp trong hai câu thực.

Để khẳng định cho sự “dại mà khôn” của mình, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã không ngần ngại vẽ ra bức tranh tứ bình vô cùng đẹp mắt ở hai câu luận:

Thu ăn măng trúc, đông ăn giá

Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao

Chỉ bằng hai câu thơ, cuộc sống bốn mùa trong năm của Nguyễn Bỉnh Khiêm được khắc họa rõ nét. Cuộc sống ấy gắn liền với thiên nhiên, với những điều thân thuộc nhất. Đó là măng trúc, là giá, là hồ sen, là ao – những món ăn, cảnh vật vô cùng bình dị, gần gũi. Ở đây, tác giả đã vẽ nên được câu chuyện thường nhật của mình. Khi sống ở đây, ông hoàn toàn chủ động và hòa hợp với nhịp sống của thiên nhiên từ trong nếp ăn, nếp sinh hoạt. Những nhu cầu tối thiểu của con người đều được đáp ứng đầy đủ, với mùa nào thức nấy, chẳng cần lo lắng nay mai ăn gì. Dường như chỉ cần bước chân ra ngoài là đã có đồ ăn sẵn sàng: măng trúc, giá. Đó đều là những món ăn tuy đạm bạc nhưng đầy bổ dưỡng.

Cuộc sống đạm bạc của tác giả nơi điền viên ấy được nhắc đến một cách vui vẻ, cách ngắt nhịp 4/3 và cách điệp cấu trúc câu đã cho thấy sự thảnh thơi hiếm có. Dù sống cuộc sống điền viên nhưng Nguyễn Bỉnh khiêm hài lòng với nó, ông thấy cuộc sống ấy thanh cao, tự do thoải mái hơn bao giờ hết.

Cuộc sống hiện tại của Nguyễn Bỉnh Khiêm nơi điền viên thôn dã mang đến cho ông sự tự do, tự tại. Thế nên, một lần nữa ông lại khẳng định sự hài lòng với cuộc sống và triết lý sống “nhàn” bằng hai câu kết:

Rượu đến gốc cây ta sẽ uống

Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao

Ở hai câu kết này, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã khéo léo mượn điển tích giấc mộng dưới gốc cây hòe của Thuần Vu Phần để thể hiện sự thức tỉnh mình và đời. Ông còn mượn rượu để say rồi để tỉnh và nhận ra chân lý cuộc đời đó là công danh, phú quý cuối cùng chỉ như giấc mộng. Ở câu cuối, tác giả đã sử dụng động từ “nhìn xem” để thể hiện sự bất cần với những thứ vinh hoa phú quý ở đời. Nguyễn Bỉnh Khiêm muốn khẳng định rằng khi bỏ được những vinh hoa phù phiếm trong đời thì sẽ có thể đứng cao hơn người một cách đầy tự tin.

Triết lý sống “nhàn” của Nguyễn Bỉnh Khiêm thể hiện xuyên suốt trong bài thơ đó chính là vinh hoa phú quý chỉ là giấc mộng trong đời. Nó đến rồi đi nhanh như cơn gió, chẳng ai nhớ được. Chỉ có nhân cách, tâm hồn mới là điều tồn tại mãi mãi.

Nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm được kết hợp nhuần nhuyễn giữa thể thơ đường luật với nhiều hình ảnh ước lệ, điển tích. Lời thơ nhẹ nhàng nhưng sâu sắc thể hiện rõ nét lối sống và quan niệm sống vô cùng đẹp đẽ. Phân tích bài thơ nhàn cho thấy tác phẩm cũng là lời khẳng định về quan điểm sống nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm: một cuộc sống hòa hợp với thiên nhiên, tránh xa những tham – sân – si của cuộc đời, vượt lên những danh vọng tầm thường.

Bài 3

Nguyễn Bỉnh Khiêm là nhà thơ lớn với nhiều tập thơ nổi tiếng, trong đó nổi bật là bài thơ “ Nhàn” thuộc tập “ Bạch vân quốc ngữ thi”. Tác phẩm đã thể hiện sâu sắc quan niệm sống nhàn của nhà thơ.

Nhàn, trước hết là cuộc sống thảnh thơi, sống thật với mình, vui thú vui cầu nhàn câu vắng:

“ Một mai một cuốc một cần câu

Thơ thẩn dâù ai vui thú nào.”

Qua câu thơ, Nguyễn Bỉnh Khiêm hiện lên như thể lão nông tri điền vui thú vui cầu nhàn câu vắng trong trạng thái “ thơ thẩn”, thảnh thơi “ dầu ai vui thú nào”. Mặc cho ai lao vào cuộc đua danh lợi, quyền quý, mặc cho cuộc đời biến thiên dữ dội, tâm hồn Nguyễn Bỉnh Khiêm vẫn vẫn sáng trong, thanh sạch, không vướng bận danh lợi. Ông đã tìm về với cuộc sống thôn dã, tự mình thanh thản với chính mình, quên hết sự đời nhiều bon chen. Như vậy, nhàn là cuộc sống thảnh thơi không vướng vào vòng danh lợi. Hạnh phúc là sống thuận với tự nhiên, sống thật với lòng mình:

“ Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ

Người khôn người đến chốn lao xao.”

Ta dại nên ta tìm về với nơi vắng vẻ. Người khôn nên người tìm đến chốn lao xao. Chốn lao xao hay chính là chốn đô hội, chốn quan trường tấp nập ngựa xe, là nơi cuộc sống xa hoa, đủ đầy với bao kẻ hầu người hạ. Nơi ấy là chốn mê cung mà Nguyễn Bỉnh Khiêm từng vướng bận, từng chiêm nghiệm. Còn, nơi vắng vẻ hay chính là nơi thôn quê thanh nhàn vắng vẻ. Chọn chốn lao xao để sống một cuộc đời no đủ, giàu sang. Nhưng, nơi ấy cũng là chốn bủa vây của những thủ đoạn, bon chen, có hiểm độc, có oán thù. Nơi quê nhà là nơi tĩnh tại của thiên nhiên nhưng cũng là nơi tĩnh tại của tâm hồn. Câu thơ sử dụng cách nói ngược, pha chút giọng điệu mỉa mai, kiêu ngạo khiến người đọc hình dung dại – khôn, khôn – dại:

“ Khôn mà hiểm độc là khôn dại

Dại vốn hiền lành ấy dại khôn”

Sống nhàn, ấy cũng là sống một đời sống tinh thần, một lối sinh hoạt đạm bạc mà thanh cao, hoà hợp với thiên nhiên đất trời, tự cấp tự túc:

Gửi chí hướng về nơi thôn dã, Nguyễn Bỉnh Khiêm nương theo qui luật của tự nhiên, mỗi mùa là một thức ăn, một hoạt động riêng rất đạm bạc và an nhàn. Đạm bạc bởi đó là những món ăn quê như măng trúc, giá đỗ. Ăn nhàn bởi ông cũng tắm hồ sen, tắm ao như bao người dân quê khác. Cuộc sống nơi thôn quê tuy đạm bạc nhưng không khắc khổ. Cuộc sống thanh cao hoà nhập với tự nhiên, mùa nào thức nấy. Chỉ hai câu thơ mà tái hiện trước mắt người đọc một bức tứ bình xuân, hạ, thu, đông.

Nguyễn Bỉnh Khiêm đã sống một cuộc sống an nhàn ẩn dật. Ông tìm về sống giữa thiên nhiên, hoà mình vào trời, mây, non, nước, sống một cuộc đời nhàn. Bởi vậy mà ông tìm đến rượu như một lẽ tự nhiên, như một cách hưởng thụ tinh thần thanh cao cách biệt cõi đời phàm tục:

“ Rược đến cội cây ta sẽ uống

Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao”

Trong con mắt của một người đã trải qua trường đời nhiều mưu mô, cạm bẫy, phú quý chỉ tựa như một giấc chiêm bao, một giấc mộng chẳng bao giờ thành. Phú quý là gì khi chốn lao xao là nơi quan trường chỉ toàn cạm bẫy? Phú quý là gì khi ở đó, tâm hồn người chỉ toàn mưu mô, hiểm độc? Thà tìm về với nơi vắng vẻ để khí tiết được thanh cao còn hơn đến chốn lao xao mà tâm hồn bị vướng bẩn. Nguyễn Bỉnh Khiêm đã chọn cách sống nhàn để giữ cho nhân phẩm không bị vướng bụi trần gian, chọn cách sống khinh thường phú quý, phồn vinh, danh lợi. Ông đã chứng kiến và chứng nghiệm lẽ đời , đã đi đến tận cùng mọi sự khôn dại – dại khôn để thấu hiểu: “ nhìn xem phú quý tựa chiêm bao”. Phải trải qua tất cả cảnh đời, trường đời, Nguyễn Bỉnh Khiêm mới đạt tới thế ứng xử văn hóa mang tinh thần triết lí về nhàn dật và tự tại.

Bài thơ “ Nhàn” với tài năng sử dụng từ ngữ đa nghĩa, hình ảnh giàu sức gợi, giọng điệu mỉa mai, kiêu ngạo,…đã góp phần thể hiện sâu sắc quan niệm sống nhàn của cụ trạng Nguyễn Bỉnh Khiêm. Phép đối được sử dụng tài tình, điển tích điển cố “ nhìn xem phú quý tựa chiêm bao” cho thấy sống nhàn để giữ cốt cách được thanh cao là kết quả của một nhân cách, một trí tuệ phi thường nhận ra công danh, quyền quý chỉ là một giấc chiêm bao.

Similar Posts

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *